20/10/2011 08:21:27

Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII

Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII

Thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều việc phải làm. (Ảnh: ĐH)

Nhìn lại lịch sử thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) của Việt Nam có thể tạm chia thành ba giai đoạn phát triển.

Giai đoạn 1991-1997: Mặc dù chưa có thị trường chứng khoán (TTCK), thực tế đã có một dòng vốn FII vào Việt Nam từ những năm đầu của thập niên 1990 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế mở cửa. Giai đoạn này chỉ có 7 quỹ được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD nhằm mục đích đầu tư tài chính tại Việt Nam.

Sau khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, giá trị giao dịch chứng chỉ quỹ của các quỹ này luôn cao hơn giá trị tài sản ròng. Tuy nhiên, không lâu sau đó vào năm 1996 và 1997, giá chứng chỉ quỹ của 4 quỹ niêm yết này đã giảm mạnh và liên tục được giao dịch thấp hơn từ 43,6% - 47,7% so với giá trị tài sản ròng. Đây là giai đoạn khó khăn của các quỹ có mục tiêu đầu tư tại Việt Nam do cơ hội đầu tư còn hạn chế, thị trường tài chính còn manh nha chưa phát triển. Vào thời kỳ này số doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa rất ít. Từ 1992-1998 chỉ có 38 doanh nghiệp tư nhân được thành lập và 128 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

Giai đoạn 1997-2002: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1998, làn sóng đầu tư nước ngoài vào châu Á bị chững lại và giảm quy mô. Mặc dù Việt Nam được đánh giá là một trong số ít nước bị ảnh hưởng nhất nhưng tình hình vốn FII cũng không sáng sủa hơn các quốc gia trong khu vực. Trong thời gian 1998-2002, không những không có quỹ đầu tư mới nào được thành lập mà các quỹ thành lập trước đó lại đua nhau rút vốn hoặc giảm quy mô hoạt động. Trong số 7 quỹ đầu tư đã có hoạt động tại Việt Nam, 5 quỹ đã rút hoạt động, 1 thu hẹp quy mô đến 90%, chỉ còn lại duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập tháng 07/1995 với quy mô nhỏ nhất trong số 7 quỹ là còn tồn tại hoạt động cho đến nay.

Giai đoạn 2003 đến nay: Từ năm 2003 trở đi, dòng vốn FII vào Việt Nam mới thực sự được xem là phục hồi và ngày càng tăng lên cùng với việc môi trường đầu tư được cải thiện; cùng với đó là sự ra đời của hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở TP.HCM và Hà Nội cũng như chủ trương và quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn và nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các doanh nghiệp nước ngoài trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa từ 30% lên 49%...

Sự phục hồi của dòng vốn FII vào Việt Nam được tăng dần qua các năm và tăng đột biến trong năm 2006 và 2007. Theo số liệu của ngân hàng ANZ thì tổng mức vốn FII vào Việt Nam giai đoạn 2001-2006 ước khoảng 12 tỉ USD và năm 2007 khoảng 5,7 tỉ USD. Cùng với đó các quỹ đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ này cũng có những thay đổi quan trọng. Nếu như trước đây là các quỹ đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là quỹ đầu tư mạo hiểm sẵn sàng chấp nhận rùi ro khi khung pháp lý ở Việt Nam còn chưa đầy đủ, TTCK chưa thành lập... thì ở giai đoạn này, các quỹ được lập ở Việt Nam đều do các nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của thị trường Việt Nam.

Tính tới thời điểm cuối năm 2009 trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã có khoảng 12.439 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có trên 1.149 tài khoản là của các tổ chức nước ngoài bao gồm các quỹ đầu tư và các tổ chức kinh tế khác của nước ngoài. Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 1,5% số nhà đầu tư tham gia TTCK, nhưng khối lượng giao dịch lại chiếm tới 20 – 25%.

Cụ thể, trong năm 2006 – 2007, giao dịch của khối nhà đầu tư nước ngoài chiếm tới gần 25% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường. Việc khai thông, duy trì dòng vốn FII là cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế, tuy nhiên đồng hành với nó là các chính sách kinh tế vĩ mô phải linh hoạt và đồng bộ nhằm đảm bảo khả năng khống chế và kiểm soát rủi ro của dòng vốn này. Đây là vấn đề phức tạp và hầu như không thể có được những công cụ thống nhất để xử lý, các quốc gia phát triển đều gặp phải những khó khăn này và đây là lúc chúng ta cần nhanh chóng đưa ra những quyết sách phù hợp dựa trên nguyên lý thị trường và trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế.

Những vấn đề được nêu ra dưới đây không chỉ là những trở ngại hiện nay đối với sự phát triển bền vững của dòng vốn FII ở Việt Nam, mà cũng là những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài đã, đang và đang muốn tham gia vào thị trường vốn đầu tư gián tiếp ở Việt Nam.

1. Chưa có định hướng rõ ràng về dòng vốn FII, chính sách chưa đồng bộ nhằm thu hút và quản lý một cách hiệu quả vốn FII. Đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam có những chính sách cũng như biện pháp cụ thể nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn cho nền kinh tế nói chung, các ngành kinh tế nói riêng Tuy nhiên, đối với nguồn vốn FII thì những chính sách nhằm tăng cường khả năng thu hút của Việt Nam vẫn chưa được xây dựng chi tiết, c.ụ thể như đối với FDI.

Đặc biệt, sau các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tâm lý chung đối với nguồn vốn FII là tương đối e dè, lo ngại trước những tác động của nguồn vốn này đối với nền kinh tế trong nước. Trên thực tế, cần có những phân tích, đánh giá đúng vai trò và ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực của nguồn vốn FFI, từ đó xây dựng chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, đóng góp và sự phát triển của TTCK và nền kinh tế.

2. Công tác thu thập dữ liệu và bảo vệ nguồn vốn FII phục vụ cho điều hành chính sách kinh tế vĩ mô không thể thực hiện được một cách chính xác. Hiện tại cơ quan chức năng chỉ kiểm soát được dòng vốn FII trên TTCK tập trung trên cơ sở cấp mã số giao dịch, còn đối với việc tam gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường tự do thì không kiểm soát được. Đối với Ngân hàng Nhà nước, việc theo dõi hoạt động lưu chuyển của dòng vốn FII liên quan tới hoạt động đầu tư trên TTCK, cũng như hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư nói chung chưa được bóc tách từ hoạt động lưu chuyển ngoại hối nói chung, bao gồm cả lưu chuyển vốn liên quan tới hoạt động thương mại xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư (FDI và FII) hay các hoạt động khác trên tài khoản vốn.

3. Việc phân công trách nhiệm, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý vốn FII còn chưa hợp lý. Chưa có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động quản lý, giám sát hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và hoạt động quản lý dòng vốn và phối hợp, chia sẻ thông tin trong quản lý vốn FII đã hạn chế đến việc tham vấn, hoạch định chính sách vĩ mô để điều tiết các dòng vốn này cũng như hoạt động TTCK.

4. Hệ thống công nghệ thông tin, nhân sự phục vụ công tác quản lý, giám sát dòng vốn FII còn hạn chế. Với số lượng nhân sự hạn chế, hệ thống công nghệ thông tin hầu như chưa có, công tác quản lý hiện tại hoàn toàn thủ công, theo nguyên tắc giám sát từ xa và dựa trên số liệu báo cáo theo kỳ của các thành viên thị trường, khiến cho cơ sở dữ liệu về dòng vốn FII là không đầy đủ, không chính xác và kịp thời. Năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế.5. Thị trường tài chính chưa phát triển, còn thiếu tính đồng bộ và yếu tố phát triển bền vững. Đây vừa là nguyên nhân, vừa là hạn chế trong việc thu hút dòng vốn FII cũng như duy trì sự ổn định của dòng vốn này.

Một khi thị trường tài chính phát triển, minh bạch, sản phẩm tài chính đa dạng, cơ chế xác định giá chứng khoán vận hành theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh, đảm bảo sự hợp lý trong giá chứng khoán thì đây là những yếu tố quan trọng đảm bảo dòng vốn FII ổn định, giảm thiểu nguy cơ đào thoát vốn.6. Một số cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu rõ về vốn FII, nắm bắt chưa đầy đủ về cơ chế vận hành của dòng vốn này.

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh hoạt động thương mại thì dòng chảy vốn đầy tư và nhân lực sẽ được khai thông. Đây không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm trong việc mở cửa thị trường để tiếp nhận những dòng lưu chuyển này. Tuy nhiên, dòng vốn FII mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tiềm tàng rủi ro nhất định. Vì vậy, thách thức đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước là phải giám sát được dòng vốn này và không nên ngăn cản bằng biện pháp hành chính.7. Việc tiếp cận nhà đầu tư nước ngoài, TTCK nước ngoài của các tổ chức phát hành Việt Nam còn hạn chế. Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể tham gia TTCK Việt Nam bằng cách tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm tài chính, chứng khoán phát hành trên lãnh thổ Việt Nam. Việc phát hành chứng khoán hoặc hỗ trợ các tổ chức lưu ký quốc tế phát hành các loại chứng khoán phái sinh (chẳng hạn chứng chỉ lưu ký phát hành tại nước ngoài) dựa trên chứng khoán cơ sở phát hành tại Việt nam chưa được quan tâm đúng mức.

(* Tác giả là Chủ tịch Hiệp hội Chứng khoán Việt Nam)

Lê Văn Châu

Theo ĐTNN

Gửi ý kiến bạn đọc