Tương lai nào cho quỹ Bảo hiểm xã hội?
Tham gia BHXH là để bảo vệ quyền lợi người lao động khi hết tuổi LĐ. (Ảnh: ĐT)
(DĐĐT) Bộ Lao động thương binh và xã hội (LĐTB&XH) gần đây đã mặt Chính phủ có bản báo cáo với Quốc hội về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) trong 2 năm 2008-2009 theo đó đề cập đến vấn đề quỹ BHXH sẽ khó đảm bảo chi trả trong dài hạn. Tương lai nào cho quỹ BHXH đang là câu hỏi chưa có lời giải.
Sẽ vỡ quỹ trong dài hạn
Bà Trần Thị Thuý Nga, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội (Bộ LĐTB&XH) cho biết vấn đề an toàn của quỹ BHXH dài hạn (thực hiện chế độ hưu trí, tử tuất) hiện là vấn đề lớn của nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, quỹ BHXH hưu trí và tử tuất không đảm bảo chi trả về lâu dài đã được đề cập đến từ nhiều năm nay. Báo cáo hàng năm của Chính phủ với Quốc hội về tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH đều đưa ra nhận định này trên cở sở dự báo của BHXH Việt Nam. Hệ thống BHXH dài hạn của Việt Nam hiện được xây dựng theo mô hình truyền thống với mức hưởng được xác định trước. Khả năng chi trả của quỹ hưu trí và tử tuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng có thể đề cập đến hai yếu tố cơ bản.
Thứ nhất, phụ thuộc vào tỷ lệ giữa bao nhiêu người đang đóng BHXH cho một người đang hưởng lương hưu. Tỷ lệ này càng cao thì độ an toàn của quỹ càng lớn. Năm 1996, khi quỹ BHXH mới được hình thành, có 217 người đóng cho 1 người hưởng; đến năm 2004, tỷ lệ này giảm xuống còn 34 người đóng cho 1 người hưởng; năm 2007 là 19 người đóng cho 1 người hưởng; năm 2008 là 12 người đóng cho 1 người hưởng; năm 2009 là 11 người đóng cho 1 người hưởng. Tốc độ tăng của người nghỉ hưu nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng của người tham gia vào hệ thống. Năm 2008, số chi từ Quỹ hưu trí và tử tuất chiếm 73,29% số thu từ tiền đóng của người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) của năm; năm 2009 chiếm 88,5% số thu của cùng năm đó.
Thứ hai, mối quan hệ giữa đóng và hưởng của mỗi cá nhân. Đối với mỗi cá nhân, chế độ hưu trí bao gồm 2 quá trình, quá trình đóng (khi NLĐ tham gia BHXH) và quá trình hưởng (kể từ khi nhận lương hưu cho đến khi chết). Luật BHXH quy định hàng tháng, NLĐ đóng 5% mức tiền lương, tiền công tháng (tối đa bằng 20 tháng tiền lương tối thiểu chung); NSDLĐ đóng 11% tổng quỹ tiền lương, tiền công của những người tham gia BHXH. Từ năm 2010, cứ 2 năm mức đóng lại tăng thêm mỗi bên 1%, cho đến khi đạt mức đóng là 8% đối với NLĐ và 14% đối với NSDLĐ.
Theo các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, tổng số tiền mà NLĐ và NSDLĐ đóng, cộng với phần lãi thu được từ đầu tư chỉ đảm bảo chi trả lương hưu trong vòng 10 năm cho mỗi cá nhân, trong khi đó độ dài thời gian hưởng lương hưu bình quân hiện nay là 19,5 năm. Yếu tố này chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nội dung khác như: quy định về cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu; về điều kiện hưởng lương hưu (thời gian đóng BHXH, tuổi nghỉ hưu); về khả năng đầu tư sinh lời của quỹ BHXH…
Như vậy, với 2 yếu tố cơ bản trên đã có thể thấy rằng quỹ hưu trí và tử tuất không đảm bảo chi trả trong dài hạn.
Cần chế tài để thực thi nghiêm
Tiền đóng BHXH của các bên và tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư là nguồn hình thành vô cùng quan trọng của quỹ. Việc chậm đóng, việc nợ đóng BHXH không chỉ ảnh hưởng đến các quyền lợi trước mắt của NLĐ mà còn làm hạn chế nguồn đầu tư của Quỹ, hạn chế tiền sinh lời của quỹ, làm ảnh hưởng đến khả năng chi trả của quỹ về lâu dài. Về giải pháp để khắc phục tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH là vấn đề phức tạp, muốn giải quyết tốt phải có thời gian.
Theo bà Trần Thị Thúy Nga, trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về BHXH, đây là giải pháp vô cùng quan trọng về lâu dài. Trên sở hiểu rõ về vai trò, mục đích, ý nghĩa của BHXH đối với NLĐ, đối với doanh nghiệp cũng như đối với xã hội mà NLĐ và NSDLĐ sẽ tự giác tuân thủ pháp luật.
Thứ hai, tăng cường công tác kiểm tra. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ kiểm tra của hệ thống BHXH cần phải chủ động tiếp cận với doanh nghiệp, phát hiện sớm những trường hợp chậm đóng, để nhắc nhở kịp thời. Tránh được trường hợp càng để lâu, khoản nợ càng lớn, càng khó xử lý. Thứ ba, thực hiện nghiêm minh các chế tài xử lý vi phạm. Đồng thời nghiên cứu đề xuất sửa đổi mức phạt. Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành thì mức xử phạt cao nhất của hành vi vi phạm pháp luật về BHXH là 30 triệu đồng. Tuy nhiên, có ý kiến đề xuất mức độ xử phạt phải được tính theo tỷ lệ của số tiền nợ đóng, chậm đóng. Đối với những trường hợp chây ỳ, cố tình trốn đóng BHXH thì cần thực hiện kiên quyết, có thể khởi kiện ra toà.
Theo các chuyên gia, vấn đề an toàn quỹ BHXH dài hạn nhằm đảm bảo khả năng chi trả về lâu dài là vấn đề lớn của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh già hoá dân số, tuổi thọ ngày càng tăng cao, càng trở nên áp lực đối với các quỹ BHXH được thiết kế theo mô hình truyền thống. Mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội để tìm kiếm những giải pháp phù hợp.
Bà Trần Thị Thúy Nga cho rằng, ở Việt Nam hiện nay cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp như sửa đổi các thông số của cả quá trình đóng và quá trình hưởng, chẳng hạn như kéo dài thời hạn đóng BHXH. Hai là tăng cường hiệu quả của việc đầu tư từ quỹ. “Thời gian tới cần nghiên cứu, đánh giá và có thể mạnh dạn cho phép Quỹ BHXH đầu tư vào các dự án kinh doanh, liên doanh góp vốn với các chính sách khuyến khích, để vừa đảm bảo an toàn, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ”, bà nói.
Tuy nhiên, cùng với việc nâng cao hiệu quả đầu tư thì một giải pháp không thể thiếu được đó là tiết kiệm chi phí quản lý của hệ thống, áp dụng công nghệ tin học vào quản lý để nâng cao chất lượng phục vụ và giảm thiểu các chi phí. Đổi mới phong cách phục vụ theo hướng xác định thực hiện BHXH là thực hiện dịch vụ công. Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về BHXH. Việc sửa đổi mức xử phạt hành vi vi phạm nhằm đủ sức răn đe, trường hợp với hành vi của cá nhân người sử dụng lao động khi vi phạm pháp luật BHXH cũng là việc cần quan tâm, chẳng hạn đối với trường hợp đã bị xử lý hành chính nhưng vẫn tiếp tục vi phạm thì phải được coi là vi phạm hình sự.
Về dài hạn, để cải cách triệt để hơn, những năm gần đây nhiều quốc gia đã mạnh dạn chuyển đổi từ hệ thống mức hưởng xác định truyền thống sang hệ thống mức đóng xác định, lương hưu được tính toán hoàn toàn trên cơ sở tiền đóng và lợi nhuận đầu tư như Ba Lan, Hungari, Thuỵ Điển, Ý, Mông Cổ. Đó cũng là cách làm mà Việt Nam có thể tham khảo trong tình hình hiện nay.
Theo ĐTNN
Các tin đã đưa
- Có nên đầu tư vàng lúc này? (17/05)
- Ngân hàng Việt Nam tham gia thị trường vốn quốc tế (13/05)
- JPMorgan Chase lỗ 2 tỉ USD trong vòng 6 tuần (11/05)
- Trung Quốc ngừng mua nợ công Châu Âu (10/05)
- Vàng: Bao giờ mua vào? (06/05)
- Tiền tôi ai giữ (26/04)
- Lãi suất trần huy động về 12%: Ai lợi? (23/04)
- Dự thảo sửa đổi Thông tư 13: Nới lỏng cho vay chứng khoán? (17/04)
- Ngạc nhiên vì ngân hàng trả lãi cho vàng ở Việt Nam (13/04)
- Khi doanh nghiệp tính kế mua lại vốn (10/04)






