26/11/2011 17:09:00

Khơi thông các “điểm nghẽn” của dòng vốn FDI

Khơi thông các “điểm nghẽn” của dòng vốn FDI

(DĐĐT) Trong việc thu hút vốn FDI, vốn thực hiện là chỉ tiêu quan trọng nhất, thể hiện số vốn thực nhà đầu tư nước ngoài đưa vào đầu tư thông qua ngân hàng, nhập khẩu máy móc, thiết bị. Vốn FDI ở nước ta lâu nay được giải ngân rất chậm do nhiều nguyên nhân và việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu để khơi thông những "điểm nghẽn" của dòng vốn quan trọng này đang mang tính cấp bách trong tình hình kinh tế hiện nay.

Nhận diện nguyên nhân giải ngân chậm

Trong những năm gần đây, việc giải ngân vốn FDI đặt ra một số vấn đề cần giải quyết:

1) Tính đến cuối năm 2010, tổng vốn đăng ký FDI là 216 tỉ USD, vốn thực hiện là 77 tỉ USD; còn 139 tỉ USD chưa giải ngân. Dự báo khoảng 50% con số đó không có khả năng thực hiện, như vậy còn khoảng 70 tỉ USD có thể đưa vào sử dụng.

Nếu tính bình quân trong 3 năm 2008-2010, thời kỳ đạt mức cao nhất, thì mỗi năm vốn thực hiện khoảng 11 tỉ USD, do vậy phải mất hơn 6 năm, có nghĩa là đến năm 2017 mới giải ngân hết số vốn đó, chưa tính đến hàng năm có khoảng 20-30 tỉ USD vốn đăng ký mới.

2) Tỷ lệ giải ngân so với vốn đăng ký trong 5 năm 2006- 2010, trừ năm 2008 là 18% do nhiều dự án có vốn đăng ký hàng tỉ USD, trong đó không ít dự án đã bị thu hồi giấy phép đầu tư; năm 2006 là 33%, 2007 là 38%, 2009 là 50%, năm 2010 là 62%.

Đã xuất hiện tình trạng một số nhà đầu tư không có năng lực tài chính, lợi dụng các địa phương “trải chiếu hoa đón nhà đầu tư nước ngoài” đã được cấp dự án lớn, nhưng không thực hiện gây ra lãng phí công sức và vật chất, chưa có chế tài để xử lý.

  

2006

2007

2008

2009

2010

Đến 10/2011

Vốn đăng ký (tỉ USD)

12

21

64

20

18,6

11,3

Vốn thực hiện (tỉ USD)

4,1

8

11,6

10

11,5

9,1

Tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng ký (%)

33

38

18

50

62

80

3) Tình trạng chậm trễ trong khi triển khai thực hiện dự án FDI có nguyên nhân khách quan do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhà đầu tư không có điều kiện về thị trường, vốn, tín dụng để xây dựng các nhà máy, có nguyên nhân chủ quan từ các cơ quan nhà nước Việt Nam như chậm giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính phiền hà trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gấy phép xây dựng, đánh giá tác dộng môi trường. Cũng đã xảy ra tình trạng quá nhân nhượng đối với nhà đầu tư, trì hoãn việc thu hồi giấy phép đầu tư khi đã đủ chứng cứ để khẳng định là không thể thực hiện dự án.

Ngoài ba vấn đề trên đây, trong công tác thống kê cũng đã bộc lộ một số nhược điểm lớn:

1) Trong số vốn thực hiện có khoảng 20% vốn trong nước và 80% vốn nước ngoài. Trên thực tế nước ta chưa có thống kê riêng con số vốn nước ngoài.

2) Do quan điểm về FDI của Việt Nam khác với thông lệ quốc tế, nên số liệu thống kê FDI của nước ta không thống nhất với con số của tổ chức UNCTAD. Theo Báo cáo FDI toàn cầu tháng 7/2010 của UNCTAD thì vốn FDI thực hiện tại Việt Nam đến cuối 2009 là 44 tỉ USD; theo Niên giám thống kê của nước ta, con số đó là 67 tỉ USD, trừ đi 20% vốn trong nước, còn 54 tỉ USD, chênh lệch 10 tỉ USD.

3) Từ khi phân cấp cho địa phương và ban quản lý các KCN, KCX, KKT  thì Cục Đầu tư nướcngoài không nắm được chính xác, kịp thời số liệu, tình hình FDI cả nước, không có con số vốn đăng ký cập nhật, càng không có vốn thực hiện trong từng thời kỳ của cả nước, phân theo ngành kinh tế, địa phương, nước và vùng lãnh thổ. Các báo cáo về FDI chỉ dựa trên tư liệu của một số địa phương, Ban quản lý KCN, KCX, KTT để suy diễn tình hình cả nước, do vậy thiếu tính thực tế và khoa học, không thể đánh giá đúng thực trạng FDI để đưa ra giải pháp thích hợp.

Những nhược điểm trên đây không chỉ liên quan đến việc thúc đẩy giải ngân vốn FDI, mà quan trọng hơn là hiệu năng quản lý nhà nước đối với FDI để thu hút thêm vốn đầu tư quốc tế theo đúng định hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và phát triển bền vững.

Cần một chiến lược mới về FDI

Bộ KH&ĐT đã được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ đánh giá thực trạng FDI và đề ra định hướng chính sách, giải pháp để nâng cấp FDI trong giai đoạn 2011- 2020. Bộ trưởng Bộ KH& ĐT đang chỉ đạo Cục Đầu tư nướcngoài, một số vụ, Trung tâm Dự báo quốc gia phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Dự kiến quý II/2012 sẽ trình Chính phủ định hướngchính sách và giải pháp mới, đồng thời sửa đổi, bổ sung để hoàn chính khung pháp lý có liên quan đến FDI.

Định hướng chính sách FDI mới dự kiến sẽ dựa trên hai căn cứ quan trọng:

Thứ nhất.Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc- UNCTAD đưa ra thông điệp “đầu tư để có nền kinh tế ít các bon”, bởi vì nhân loại đang đứng trước thảm họa khó lường về tình trạng trái đất nóng dần lên làm biến đổi khí hậu, gây ra hạn hán, bão tố, lũ lụt đe dọa tăng trưởng kinh tế và tính mạng của hàng trăm triệu người trên hành tinh của chúng ta. Nhân loại đang sống trong điều kiện vượt quá sự chịu đựng sinh học của trái đất, phải tìm mọi cách để vượt qua thách thức nghiêm trọng đó.

Thông điệp đó phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nước ta trong thập niên thứ hai cuả thế kỷ XXI, đã được thể hiện tại các văn bản của Chính phủ: “Định hướng phát triển bền vững” và “Chiến lược phát triển sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020”.

Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng nóng lên của trái đất.Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) dự báo, ở Đông Dương nhiệt độ gia tăng 1 độ C thời kỳ 2010-2039, 3-4 độ C thời kỳ 2070- 2099, lượng mưa sẽ giảm 20mm vào 2010-2039, sau đó tăng 60mm vào 2070-2099, mực nước biển dâng cao 6cm/năm.

Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình của nước ta tăng lên 0,7 độ C, mực nước biển dâng thêm 20cm; dự kiến năm 2100 nhiệt độ tăng khoảng 3 độ C và mực nước biển dâng thêm 1m, theo tính toán thì khoảng 40.000km2, chiếm 12,3% diện tích đất nước, sẽ chìm dưới nước biển, 10% dân số nước ta chịu tác động, thiệt hại khoảng 10% GDP.

Báo cáo của UNDP “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu” năm 2007 đã nhận xét: “15 năm qua Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc về phát triển con người…Tuy vậy biến đổi khí hậu gây ra mối đe dọa thật sự những thành tựu đó và không đâu nghiêm trọng hơn khu vực đồng bằng sông Cửu Long”.

Thứ hai.Nước ta đã vượt qua được cột mốc đầu tiên trên con đường phát triển, gia nhập hàng ngũ các quốc gia có mức thu nhập trung bình (thấp), khi năng lực nội sinh đã được nhân lên gấp nhiều lần so với những năm đầu thời kỳ đổi mới, khi hàng năm có thêm 50.000-70.000 doanh nghiệp mới được thành lập và trong hơn nửa triệu doanh nghiêp trong nước đã có một số “anh cả đỏ” chắng những đủ sức cạnh tranh nhiều lĩnh vực, ngành nghề trên thị trường nội địa, mà bắt đầu vươn ra và thu được những thành quả đáng khích lệ trong hoạt động đầu tư ở nước khác, thì cần có sự điều chính cơ bản chính sách FDI trên căn bản lợi ích dân tộc.

Hiện nay vốn FDI thực hiện chiếm khoảng 25- 28% tổng vốn đầu tư xã hội; đó là tỷ trọng khá cao so với nhiều nước trong khu vực. FDI đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, khoảng 30% tốc độ tăng GDP hàng năm, hơn 40% giá trị sản lượng công nghiệp, 55% kim ngạch xuất khẩu, 18% thu ngân sách nhà nước (chưa kể dầu thô), tạo việc làm và hình thành đội ngũ lao động có trình độ lành nghề.

Đồng thời thực hiện các cam kết quốc tế của nước ta trong khung khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Khu mậu dịch tự do ASEAN- AFTA và Hiến chương ASEAN hướng tới Cộng đồng vào năm 2015, các hiệp định đầu tư đa phương như ASEAN+Trung Quốc, ASEAN+Nhật Bản, các hiệp định đầu tư song phương giữa nước ta với từng nước.

Bốn định hướng lớn về chính sách FDI

Chính sách mới về FDI có bốn định hướng lớn: 1) Chất lượng và hiệu quả cao; 2) Phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế ít các bon; 3) Có sự cam kết về chuyển giao công nghệ thích hợp với từng ngành, từng dự án; và 4) Lao động có kỹ năng cao.

Chất lượng và hiệu quảcủa các dự án FDI cần được xem xét dưới giác độ phù hợp với mục tiêu của Chiến lược kinh tế- xã hội của cả nước, của từng ngành, vùng lãnh thổ và địa phương, phải được các cơ quan có thẩm quyền cấp phép coi là tiêu chí hàng đầu khi thẩm định dự án đầu tư.

Phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế ít các bon đòi hỏi khắt khe hơn đối với FDI, bởi vì đã có hiện tượng một số nước lớn có ý đồ và trên thực tế đang tiến hành nhiều dự án khai thác tài nguyên, di dời sang nước ta các ngành công nghiệp không thân thiện với môi trường và phát thải nhiều khí các bon; nếu không cảnh giác thì “lợi bất cập hại”, khó lường trước hậu quả tiêu cực.

Công nghệ có tầm quan trọng đối với tái cơ cấu nền kinh tế quốc dân. FDI trong giai đoạn mới phải ưu tiên các ngành công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, tạo ra đột phá về công nghệ của đất nước. Nếu ứng dụng công nghệ mới thì sản xuất thép có thể tiết kiệm được 40% năng lượng và giảm phát thải 50% khí các bon; những con số tương ứng với xi măng là 35% và 25%, với giấy in và bột giấy là 80% và 60%. Các cam kết về công nghệ phải được thực hiện nghiêm túc và chỉ sau khi cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát thực địa, xác nhận đã đủ tiêu chuẩn thì mới được vận hành nhà máy.

Lao động có kỹ năng cao cần được thay thế định hướng FDI sử dụng nhiều lao động. Việc chuyển nhanh từ lợi thế về lao động phổ thông sang lao động có kỷ năng để thích ứng với giai đoạn mới của sự phát triển vừa đạt được đồng thời hai mục tiêu:

Một là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động phổ thông dành ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước, nhất là dịch vụ là lĩnh vực đòi hỏi ít vốn đầu tư nhưng giải quyết được nhiều lao động; Hai là những ngành cần lao động có kỹ năng như công nghệ và dịch vụ cao thì thu hút FDI với cam kết về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, để hình thành đội ngũ các nhà quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật ngang tầm khu vực và tiếp cận tầm quốc tế.

Các ngành và lĩnh vực ưu tiên, ưu đãi đối với các dự án FDI được điều chỉnh theo định hướng mới. Cần chuyển hướng từ thu hút chủ yếu doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước châu Á sang TNCs hàng đầu thế giới của các nước OECD.

Trên cơ sở đó cần thay đổi cơ bản từ chính sách thu hút FDI sang chính sách nâng cấp FDI và chính sách liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp dân tộc để nước ta tham gia có hiệu quả hơn chuỗi giá trị sản xuất và phân phối toàn cầu.

Đổi mới công tác quản lý nhà nước theo hướng tiếp cận tư duy về nhà nước dịch vụ có chức năng quan trọng nhất là hình thành thể chế, luật pháp làm hành lang pháp lý minh bạch, ổn định, công khai, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư quốc tế, doanh nghiệp FDI hoạt động có hiệu quả, thực hiện nghiêm túc hậu kiểm, phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước, bảo vệ quyền hợp pháp của nhà đầu tư, lợi ích của quốc gia và của người lao động trong khu vực FDI.

Đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư, thẩm định và cấp phép, triển khai dự án, theo dõi hoạt động doanh nghiệp, giải quyết kịp thời các vấn đề về môi trường sinh thái, tranh chấp lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của nhà đầu tư.

Điều chỉnh hợp lý phân cấp quản lý nhà nước đối với FDI giữa Chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố, ban quản lý KCN, KKT theo hướng nâng cao hiệu năng của cả hệ thống, phát huy sáng kiến, tính năng động của địa phương đồng thời bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân, hài hòa giữa lợi ích của tỉnh, thành phố với lợi ích quốc gia.

Cần nghiêm khắc hơn trong việc lựa chọn nhà đầu tư; đã có dự án FDI trên 4 tỉ USD vừa cấp phép khoảng một năm thì bị rút giấy phép, bởi vì nhà đầu tư lợi dụng sự cả tin của lãnh đạo một vài địa phương để được cấp phép hoạt động, rồi tìm cách bán lại dự án kiếm lời; khi không thể thực hiện được đành bỏ cuộc.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và định hướng mới về FDI, Sở KH&ĐT, Ban quản lý KCN, KCX cần rà soát các dự án chưa thực hiện theo tiêu chí lấy chất lượng làm chủ yếu, phân làm ba loại:

1) Dự án đang tạm thời gặp khó khăn gắn với suy thoái kinh tế thế giới nhưng phù hợp với định hướng mới, nhà đầu tư có năng lực tài chính để thực hiện thì chấp thuận cho họ thêm thời gian cần thiết để triển khai dự án.

2) Dự án chưa triển khai đã quá thời hạn quy định mà chủ đầu tư không có năng lực tài chính; dự án không phù hợp với định hướng mới thì cần thu hồi giấy phép đầu tư.

3) Dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường nhưng vướng mắc một số vấn đề cụ thể, kể cả chính sách ưu đâĩ thì tiếp cân với nhà đầu tư để giải quyết từng trường hợp theo quan điểm lợi ích kinh tế- xã hội.

Theo chỉ đạo của Chính phủ về việc cải tiến môi trường đầu tư, cần tiếp tục cải tiến các thủ tục hành chính, tiến nhanh theo hướng “nhà nước điện tử”, thông qua mạng internet tiến hành các thủ tục cần thiết, giảm thiểu thời gian và chi phí cho nhà đầu tư, xử lý kịp thời vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, cấp giấy quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng; hổ trợ các doanh nghiệp FDI giải quyết khó khăn trước mắt gắn với lạm phát cao và khủng hoảng kinh tế; đồng thời kiên quyết xử lý những vi phạm pháp luật trong FDI như gây ô nhiễm môi trường, chuyển giá, trốn thuế, lậu thuế.

Vốn FDI tiếp tục đổ vào nước ta ngày một nhiều hơn; nước ta cũng cần có nguồn vốn đó để bảo đảm đủ vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế. Các bài học thành công và thất bại trong kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế trong đó có thu hút FDI là tài sản quý giá để người Việt Nam khôn ngoan hơn trong việc tiếp nhận vốn đầu tư quốc tế có hiệu quả hơn và phát triển bền vững hơn.

GS.TSKH. Nguyễn Mại

(Trích tham luận tại Hội nghị bàn về công tác giải ngân vốn FDI diễn ra tại Vĩnh Phúc ngày 25/11/2011))

Gửi ý kiến bạn đọc