Tư duy mới về quản lý nhà nước đối với FDI
Lễ khởi công một dự án FDI tại Hà Nội. (Ảnh: AM)
(DĐĐT) Nhà nước trong thế giới hiện đại là một trong những vấn đề có tính toàn cầu. Những cuộc tranh luận về chức năng, vai trò nhà nước trong quản lý kinh tế chưa bao giờ kết thúc. Người ta muốn tìm cho nhà nước một địa vị như nó cần có, quản lý có hiệu quả nền kinh tế quốc dân hướng đến các mục tiêu do chính nhà nước quyết định.
Bàn về nhà nước thời nay
Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề không phải là nhà nước hay thị trường, hoặc phân ranh giới, phạm vi hoạt động nơi này là nhà nước, nơi kia là thị trường; càng không nên và không thể đem nhà nước đối lập với thị trường; bởi vì đã qua lâu rồi thời kỳ của những thị trường hoàn toàn tự do không cần có sự quản lý của nhà nước.
Vào đầu những năm 80 một số nước trên thế giới như Mỹ, Anh, đã cường điệu vai trò kinh tế tư nhân trong một thị trường không bị nhà nước cản trở (được gọi là học thuyết Reagan - Thatcher). Thực tế đã cho thấy rằng cách ứng xử đó đã làm giảm vai trò của nhà nước, gây ra tình trạng xuống cấp nghiêm trọng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, rốt cuộc cũng chẳng đưa lại nhiều lợi nhuận hơn cho các doanh nghiệp tư nhân.
Trong thị trường hiện đại, vai trò của nhà nước chẳng những không suy giảm, mà còn trở nên quan trọng hơn, bởi vì nhà nước yếu kém sẽ không thể có thị trường phát triển lành mạnh. Nhà nước trở thành nhân tố kích thích hoặc kìm hãm các quan hệ thị trường tuỳ thuộc vào việc có hay không tạo ra được môi trường pháp lý, điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội cho kinh doanh và đầu tư.
Các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường tự điều chỉnhthông qua quy luật cung cầu, giá cả hàng hoá, dịch vụ, phương thức mua bán, thanh toán, tỷ giá; trạng thái biến động của thị trường độc lập với ý chí của con người, rất khách quan và cũng rất vô hình.
Các quan hệ thị trường đồng thời chịu tác động của cơ chế điều chỉnhthông qua việc nhà nước sử dụng các công cụ tiền tệ, tài chính như thuế, lãi suất, tỷ giá, trợ giá hàng hoá và các công cụ hành chính như hạn ngạch nhập khẩu, hàng rào thuế quan và phi quan thuế, điều kiện kinh doanh.
Cần nhấn mạnh rằng, mọi sự lạm dụng cơ chế điều chỉnh của nhà nước, không tôn trọng tính khách quan của các quan hệ thị trường và cơ chế tự điều chỉnh của thị trường đều gây ra tác động tiêu cực về kinh tế và tâm lý xã hội.
Nhà nước một mặt là người đề ra bộ quy tắc điều tiết kinh tế và xã hội,làm trọng tài để phán sử việc thực hiện các quy tắc đó; mặt khác là đối thủ cạnh tranh trên thị trường thông qua hoạt động của kinh tế quốc doanh, qua việc mua sắm của Chính phủ và đầu tư công cộng. Cũng như các đối tác khác trên thị trường, nhà nước phải nghiêm chỉnh thực hiện bộ quy tắc của chính mình.
Với bộ quy tắc đúng đắn, nhà nước sẽ tác động kích thích tăng trưởng nhanh và có hiệu quả. Ngược lại, nhà nước có thể gây ra tác hại lớn và lâu dài cho kinh tế - xã hội bằng bộ quy tắc làm triệt tiêu động lực cá nhân, kích thích việc tạo ra của cải dồi dào. Cả khi có bộ quy tắc đúng thì cấu trúc bộ máy nhà nước và các công chức đầy quyền uy có thể thực hiện theo lợi ích riêng của họ, gây tổn hại về kinh tế - xã hội.
Nhà nước gắn với quyền lực từ việc hình thành luật pháp đến việc thực thi pháp luật thông qua một bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp đồ sộ; do vậy khuynh hướng phổ biến của nhà nước trên thế giới là quan liêu, lạm quyền, sách nhiễu bằng các thủ tục hành chính phức tạp, rối rắm, thậm chí cả tình trạng hình sự hoá các quan hệ dân sự, quan hệ hợp đồng kinh tế.
Nhân tố quyết định việc giảm thiểu khuynh hướng phổ biến đó là tạo lập cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các bộ phận trong cấu trúc nhà nước: lập pháp- hành pháp và tư pháp, bằng những quy định minh bạch chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ của từng cơquan, cũng nhưbằng các cơ chế và phương thức thích hợp để phát huy dân chủ thực chất, tạo điều kiện để mọi công dân tham gia công việc chung của nhà nước, giám sát hoạt động của các cơquan công quyền.
Mục tiêu đổi mới của Nhà nước ta
Sự nghiệp đổi mới của nước ta được bắt đầu từ đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế. Các chính sách mới trong giai đoạn đầu chủ yếu là chính sách kinh tế, nhằm chuyển từ một nền kinh tế với hai thành phần chính là quốc doanh và hợp tác xã sang nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm cả kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các hình thức kinh tế hỗn hợp; đồng thời thực hiện cơ chế kinh tế mới thay thế cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp. Việc đổi mới hệ thống chính trị, bao gồm Nhà nước được tiến hành chậm hơn so với đổi mới kinh tế.
Đổi mới kinh tế đến một thời điểm nhất định đòi hỏi phải đổi mới hệ thống chính trị và cấu trúc nhà nước. Đó là thời điểm mà các động lực do đổi mới kinh tế đã giảm dần, những giải pháp có tính cục bộ không đủ để tiếp tục chuyển động bộ máy kinh tế, hệ thống chính trị và cấu trúc nhà nước xuất hiện nhiều lực cản đối với kinh tế, gây ra những phản ứng tiêu cực của doanh nghiệp, nhà đầu tư, dân cư trong hoạt động kinh tế và trong đời sống chính trị, xã hội. Đến lúc này, việc chậm đổi mới hệ thống chính trị và cấu trúc nhà nước đã trở thành một nhân tố kìm hãm tốc độ tăng trưởng, giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh tế, kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực khác.
Do vậy, Nhà nước phải tự đổi mớiđể thích ứng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở cung bậc cao hơn so với giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, cũng như sự biến động nhanh chóng và liên tục của tình hình chính trị và kinh tế thế giới.
Trong việc Nhà nước tự đổi mới cũng cần có tư duy độc lập, sáng tạo như trong đổi mới kinh tế, vì phạm vi sự khác biệt giữa các nhà nước là rất lớn. Không có một mô hình nhà nước chung cho mọi hoàn cảnh và mọi trình độ phát triển, cũng không thể sao chép một mô hình cụ thể về cấu trúc nhà nước của một quốc gia khác mà phải từ thực tiễn trạng thái biến động kinh tế - xã hội ở nước ta, từ sáng kiến và kinh nghiệm của từng bộ phận, từng địa phương để nghiên cứu, thử nghiệm, hình thành ý tưởng, chủ trương, phương án xây dựng cấu trúc nhà nước…
Trong khi thực hiện cần coi trọng sắc thái địa phương để vừa bảo đảm những quy tắc chung được áp dụng thống nhất trong toàn quốc, vừa khai thác đến mức cao nhất sáng kiến, lợi thế của từng địa phương.
Theo tinh thần đó, Đại hội lần thứ 6 của Đảng đã đề ra phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Đại hội lần thứ 9 của Đảng đã bổ sung từ "Dân chủ" vào mục tiêu xây dựng đất nước: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Tính minh bạch và công khaicủa cơ chế, chính sách, pháp luật là một yêu cầu đối với nhà nước hiện đại. Minh bạch trong mọi văn bản pháp quy của Nhà nước để cho mọi người đều có nhận thức giống nhau, kể cả người chịu trách nhiệm thực thi pháp luật và đối tượng chấp hành luật pháp, để không bị lợi dụng do việc diễn đạt không rõ ràng. Công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phổ biến rộng rãi cho mọi người dân các quy định của nhà nước để họ thi hành một cách tự giác và tham gia vào quá trình giám sát các cơ quan nhà nước. Tình trạng thiếu minh bạch và không công khai sẽ tạo ra kẽ hở cho việc lợi dụng để hành động trái pháp luật.
Toàn cầu hoá và nhập kinh tế quốc tế vừa là một thách thức đối với Nhà nước ta trong tình trạng nền kinh tế còn kém năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới, nhưng cũng là cơ hội để thúc đẩy việc cải cách các lĩnh vực hoạt động, buộc Nhà nước phải tự đổi mới nhanh hơn để đáp ứng tốt hơn môi trường kinh tế cạnh tranh; bởi vì Nhà nước chịu tác động của các nhân tố có tính toàn cầu, kể cả các cuộc biến động, khủng hoảng khu vực và thế giới, cũng như Nhà nước phải thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế.
Việc thực hiện chiến lược 10 năm 2011-2020 với mục tiêu nước ta về cơ bản được công nghiệp hoá theo hướng hiện đại vào năm 2020, đồng thời tiếp cận với nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức theo trào lưu chung của thế giới đang đặt ra cho quản lý nhà nước mục tiêu kép này, phải tạo ra bằng được những phương tiện về thể chế, về nguồn nhân lực, về vật chất để đồng thời thực hiện được mục tiêu công nghiệp hoá và chuyển dần đất nước sang nền kinh tế tri thức.
Tính sáng tạo, ý tưởng mớilà đặc trưng của nền kinh tế tri thức. Nhà nước phải kích thích mạnh mẽ tính sáng tạo, trân trọng những ý tưởng mới của cá nhân, doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt nhất để đưa nhanh ý tưởng đúng vào cuộc sống.
Lịch sử của sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã ghi nhận nhiều cải cách kinh tế được tiến hành trong một thời gian tương đối ngắn nhưng đã có tác động chuyển biến cơ bản tình thế, như việc hình thành một hệ thống giá cả theo nguyên tắc thị trường, một tỷ giá hối đoái được điều hành linh hoạt, áp dụng "lãi suất dương" khi lạm phát ở mức 9%/ tháng vào năm 1989.
Nhưng cải cách nhà nước thì khó khăn hơn, không thể diễn ra nhanh chóng và toàn diện vì đụng chạm đến thể chế, cấu trúc hiện hữu đã tồn tại trong nhiều thập kỷ, tạo thành nếp nghĩ và thói quen sử dụng quyền lực, nên thường gặp phải sự chống đối có khi rất quyết liệt, kể cả về phương diện chính trị.
Để cho cuộc cải cách nhà nước được tiến triển thuận lợi thì cần có tư duy về nhà nước hiện đạitrong nền kinh tếđang chuyển đổi và trong hội nhập với kinh tế thế giới, về vai trò của thể chế và việc tạo lập nền tảng dân chủ để xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với dân cư và với doanh nghiệp. Do vậy, việc nhà nước tự đổi mới hiện đang đòi hỏi ý chí sắt đá và quyết tâm của cơ quan quyền lực cao nhất, cũng cần có thời gian để thực hiện với tinh thần tích cực nhất bằng một chương trình đồng bộ.
Nhà nước cần nhận biết những hạn chế trong việc thực thi các chức năng của mình phù hợp với trạng thái hiện hữu của thị trường. Nhà nước không thể làm quá sức mình, nếu muốn trở thành một nhà nước có hiệu năng.
Kinh nghiệm thực tế của nước ta đã chỉ ra rằng, những chủ trương và chính sách nào được nhân dân và doanh nghiệp đồng tình thì đem lại sức sống cho Nhà nước, mặc dù không được một bộ phận công chức tự giác thực hiện. Điển hình là việc xoá bỏ hàng trăm giấy phép không còn thích hợp trong khi thực hiện Luật Doanh nghiệp, bỏ giấy phép xuất nhập khẩu và hạn ngạch (quota) đối với phần lớn hàng xuất nhập khẩu.
Nhà nước cũng được khuyến cáo cần thực hiện cơ chế cạnh tranhthông qua đấu thầu công khai dự án đầu tư và mua sắm của Chính phủ, thi tuyển để lựa chọn công chức nhà nước vào các chức vụ khác nhau. Cạnh tranh một cách lành mạnh thông qua các thể chế phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước là một hướng quan trọng để sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước, cũng như lựa chọn được công chức bảo đảm có đủ phẩm chất và năng lực vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Tư duy mới về quản lý nhà nước đối với FDI
Việc Quốc hội ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2005 để điều chỉnh các hoạt động đầu tư và kinh doanh của các khu vực kinh tế trên một mặt bằng luật pháp đánh dấu bước tiến mới về việc hoàn thiện khung khổ pháp lý theo nguyên tắc thị trường, khẳng định rõ ràng các doanh nghiệp FDI là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế quốc dân của nước ta.
.jpg)
Mặc dù vậy, một vài công trình nghiên cứu lý luận ở nước ta coi FDI như là một công cụ để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của những nước lớn đối với các nước đang phát triển, mà không thấy được tính độc lập và tự chủ của các nước nhận đầu tư, trên cơ sở một hệ thống luật pháp được hình thành để bảo đảm lợi ích dân tộc trong việc thu hút vốn FDI.
Hoạt động FDI thường xuyên đụng chạm đến vấn đề chính trị và an ninh quốc phòng; việc đưa ra quyết định đối với một số dự án FDI có quy mô lớn, ở những vùng kinh tế “nhạy cảm” đôi khi gặp trở ngại do một vài ý kiến quá nhấn mạnh đến "an ninh chính trị và quốc phòng của đất nước", mà chưa đứng trên lợi ích toàn cục theo phương châm gắn kinh tế với an ninh và quốc phòng, trong đó phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm.
Cũng có người lo sợ các thế lực thù địch quốc tế sử dụng FDI như một công cụ "diễn biến hoà bình"; làm chệch hướng phát triển của đất nước, làm thay đổi bản chất xã hội, nhấn mạnh một chiều mặt tiêu cực của kinh tế thị trường cũng như hội nhập kinh tế quốc tế và FDI.
Do quan điểm và nhận thức đối với FDI vẫn chưa được sự nhất trí cao trong các cơ quan nhà nước, các công cụ truyền thông đại chúng, nên việc cụ thể hoá đường lối của Đảng bằng luật pháp, chính sách và các văn bản pháp quy chưa trở thành một hệ thống bảo đảm tính nhất quán và ổn định.
Nâng cao hiệu năng của quản lý nhà nước đối với FDI đòi hỏi phải thống nhất quan điểm, nhận thức, từ những mô hình thành công trong thực tiễn của các ngành, địa phương để hình thành thể chế, quy định chung của cả nước, tiếp cận với thể chế tốt nhất của những quốc gia đã thành công trong việc xử lý quan hệ nhà nước với thị trường, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh hấp dẫn, hình thành cơ cấu bộ máy và đội ngũ công chức làm việc có hiệu quả.
Trong gần hai thập kỷ vừa qua, Nhà nước đã tập trung công sức vào việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm thiết lập một hành lang pháp lý cho kinh tế thị trường và phù hợp với đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hàng năm, Quốc hội nước ta họp hai kỳ, kéo dài từ một đến hai tháng, chủ yếu để thông qua các dự án luật do Chính phủ trình, do vậy đến nay hệ thống pháp luật của kinh tế thị trường ở nước ta đã được hình thành và đã dần hoàn thiện. Với hoạt động FDI hiện được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư áp dụng cho các khu vực kinh tế.
Tuy vậy hệ thống pháp luật của nước ta vẫn còn nhiều nhược điểm:
i) Tình trạng không nhất quán về thể chế, chính sách, luật pháp, các văn bản được ban hành sau có một số nội dung khác, thậm chí đối lập với văn bản trước.
ii) Đối chiếu với các cam kết quốc tế đa phương và song phương thì hệ thống luật pháp nước ta còn phải sửa đổi, bổ sung nhiều, nhất là từ khi nước ta gia nhập WTO vào đầu năm 2007, nhưng tiến triển còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
iii) Tính minh bạch của luật pháp là một nhược điểm lớn, khá nhiều nội dung điều luật không đủ rõ ràng để điều khiển các hành vi kinh tế, thậm chí có thể được hiểu khác nhau.
iv) Tình trạng phổ biến là sau khi đã ban hành luật lại phải chờ nghị định của Chính phủ, rồi thông tư của các bộ, thường một luật có nhiều nghị định, mà nghị định do nhiều bộ khởi thảo, nên thường rất chậm, có những nội dung không phù hợp, thậm chí trái luật.
v) Tình trạng "phép vua thua lệ làng" là hiện tượng đáng lưu ý; một số cơ quan trung ương và chính quyền địa phương tự ý ban hành các văn bản trái luật, hoặc không thi hành nghiêm chỉnh luật pháp. Điều đáng lưu ý là khi phát hiện những vi phạm cụ thể thì không được cơ quan có thẩm quyền kịp thời ra quyết định đình chỉ thi hành văn bản trái luật, xử lý những người chịu trách nhiệm về tình trạng đó.
iv) Việc thực thi pháp luật không nghiêm; những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật không được xử lý kịp thời bằng hình thức kỷ luật hành chính, hoặc truy tố trước pháp luật nếu có các hành vi nghiêm trọng.
Rõ ràng là đã nảy sinh tình trạng đối lập giữa lợi ích cục bộ của từng ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp với lợi ích dân tộc. Trong khi môi trường đầu tư cần được cải thiện, cần giảm mạnh chi phí cơ hội cho các dự án FDI, thực hiện bình đẳng về luật pháp giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI... thì lợi ích cục bộ đã trở thành lực cản lớn nhất cho quá trình phát triển.
Chủ trương thu hút vốn đầu tư quốc tế đang đòi hỏi phải đồng thời giải quyết các vấn đề có liên quan đến thể chế pháp luật của nước ta, nhằm làm cho hệ thống luật pháp vừa phù hợp với kinh tế thị trường, vừa tiếp cận được luật pháp và thông lệ quốc t
|
Kinh nghiệm quản lý FDI từ Mexico Năm 2000, đoàn cán bộ của Tổ nghiên cứu kinh tế đối ngoại của Thủ tướng Chính phủ đã thăm và làm việc tại Mexico. Chúng tôi đã hỏi cơ quan quản lý FDI của nước này về cách tiến hành thực hiện một dự án FDI thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Xin được trích đăng và xem như một kinh nghiệp của nước ngoài để chúng ra có thể xem xét học tập: - Tôi muốn đầu tư ở Mexico thì phải làm gì? + Ông đi tìm dự án mà ông thấy có thể sinh lợi. - Tôi muốn lập dự án đầu tư thì có cần qua cơ quan của ông không? + Ông tự làm lấy hoặc thuê tư vấn. Luận chứng của dự án là để cho ông chứ không phải cho ai khác; khi cần vay vốn của ngân hàng thì họ bắt ông trình luận chứng đó, nếu họ thấy dự án sinh lợi thì mới cho vay. - Tôi nhập máy móc trong đó có thiết bị cũ có phải xin phép không? + Nhập cái gì vào đây là quyền của ông, trừ vũ khí, ma tuý thì tôi khuyên ông đừng nhập. - Thế các ông không sợ thiết bị cũ làm ô nhiễm môi trường à? + Nếu khi vận hành mà vi phạm luật bảo vệ môi trường thì cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này sẽ xử lý theo pháp luật, kể cả việc đình chỉ sản xuất, truy tố trước toà án. Nhưng đến nay ở Mexico chưa có nhà đầu tư nào dại dột làm như vậy cả. - Tôi muốn vay tín dụng của ngân hàng Mexico có được không? + Tại sao lại không được, nếu ông có dự án tốt thì người ta cho vay rất thuận lợi, bất kể ông là người nước nào, bởi vì ngân hàng kinh doanh tiền tệ để sinh lợi. - Thế đất đai thì sao? + Ông đến các bang mà bàn với chủ đất, có nhiều phương thức khác nhau như mua, bán, cho thuê. - Ông có con số vốn đăng ký FDI hiện tại không? + Chúng tôi không hiểu khái niệm đó, bởi vì ở Mexico khi nào nhà đầu tư xây dựng xong nhà máy thì đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế để thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Cơ quan quản lý FDI của chúng tôi chủ yếu làm xúc tiến đầu tư, vận động nhà đầu tư nước ngoài vào đây và giúp đỡ họ nếu gặp khó khăn. |
Các tin đã đưa
- Phát triển bền vững cần gắn với vấn đề biến đổi khí hậu (30/04)
- 'Lạm phát thấp là bất bình thường' (27/04)
- Đề án tái cơ cấu: Chưa lường tới chi phí triển khai (19/04)
- Phân cấp: Tỉnh quá đà, quốc gia chịu trận (15/04)
- Việt Nam chưa minh bạch trong kinh tế (13/04)
- Cải thiện chất lượng nguồn lao động để thu hút FDI (29/03)
- Nâng cao chất lượng tín dụng vùng Tây Nam Bộ (27/03)
- Tìm chiến lược phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ (23/03)
- Chống chuyển giá và một số vấn đề tài chính liên quan tới FDI (16/03)
- 25 năm thu hút FDI tại VN: Những vấn đề tồn tại* (15/03)






